Các loại ngân hàng và các liên hiệp tín dụng hiện nay

0
7

Các loại ngân hàng trung gian hiện nay gồm có: Các ngân hàng thương mại, Ngân hàng đặc biệt, ngân hàng tiết kiệm và các liên hiệp tín dụng.

Các loại ngân hàng trung gian hiện nayCác loại ngân hàng trung gian hiện nay

1/ Các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng này thu hút vốn bằng cách nhận tiền gửi: tiền gửi có thể phát hành séc (tiền gửi thanh toán), tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn (là tiền gửi có thể thanh toán ngay nhưng không cho phép người gửi viết séc) và tiền gửi có kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn thanh toán định trước).

Sau đó họ dùng những vốn này để thực hiện cho vay: cho vay thương mại, cho vay tiêu dùng, cho vay thế chấp và mua trái khoán chính phủ, trái khoán của chính quyền địa phương, ở Mỹ có khoảng 12000 ngân hàng thương mại, với tư cách là một nhóm, họ là những trung gian tài chính lớn nhất và có một khối tài sản dưới hình thức các chứng khoán rất đa dạng.

Mặc dù có một biên giới mỏng manh giữa các ngân hàng thương mại với các tổ chức tiết kiệm khác, người ta vẫn tách ngân hàng thương mại ra một nhóm riêng vì những lý do đặc biệt của nó. Một trong những lý do này là tổng tài sản có của ngân hàng thương mại luôn là một khối lượng lớn nhất trong toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Hơn nữa khối lượng séc hay tài khoản tiền gửi không kỳ hạn mà nó có thể tạo ra cũng là một bộ phận quan trọng trong tổng cung tiền M1 của nền kinh tế.

Ngân hàng thương mại là một loại ngân hàng phổ biến nhất hiện nay trong các loại ngân hàng trung gian.

Ngân hàng thương mạiNgân hàng thương mại

2/ Ngân hàng đặc biệt

Ngân hàng đặc biệt là các ngân hàng trung gian được thành lập để phục vụ cho những mục đích đặc biệt. Nguyên nhân dẫn đến sự ra đời loại hình ngân hàng này là do sự phát triển không đồng đều giữa các khu vực trong nền kinh tế thị trường.

Để khắc phục điều đó đòi hỏi chính phủ phải có những chính sách hỗ trợ ưu tiên cho những ngành sản xuất kém phát triển để thúc đẩy nó phát triển nhanh. Trong lĩnh vực ngân hàng có những ngân hàng phục vụ riêng cho một ngành , một lĩnh vực nào đó như ngân hàng phát triển ngư nghiệp ở Hàn Quốc, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam..

Mặt khác đối với những ngành kinh tế mũi nhọn cần được hỗ trợ để phát triển trước, tạo tiền đề để thúc đẩy các ngành khác phát triển cũng đòi hỏi có những quan tâm hỗ trợ về vốn như ngoại thương, đầu tư dài hạn..Điều này dẫn tới sự hình thành của các ngân hàng chuyên biệt như ngân hàng ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng công nghiệp Hàn quốc.

3/ Ngân hàng tiết kiệm

Ngân hàng tiết kiệm được hình thành với mục đích huy động những khoản tiền để dành của công chúng nhằm làm tăng thêm khoản sinh lời cho người lao động, mặt khác gia tăng nguồn tài chính cần thiết phục vụ cho hoạt động sản xuất và trao đổi.

Tính chất: Ngân hàng tiết kiệm khác với các loại ngân hàng trung gian khác. Những đặc điểm đó là:

– Chủ nhân của các ngân hàng tiết kiệm là người đã gửi tiền tiết kiệm.

– Phương thức hoạt động của ngân hàng tiết kiệm mang nhiều tính tương trợ, khác với ngân hàng thương mại là nhằm mục đích kinh doanh là chính.

– Vốn hoạt động chủ yếu của ngân hàng tiết kiệm là tiền gửi của dân chúng hoặc là góp vốn đóng góp của các nhà hảo tâm với tính chất hỗ trợ người nghèo là chính hơn là đóng góp để kiếm lời. Loại ngân hàng này không phát hành phiếu nợ để vốn của công chúng và hầu như không vay của tổ chức nước ngoài hay ngân hàng trung ương trừ trường hợp đặc biệt thiếu tiền mặt.

– Do tính chất đặc biệt của vốn huy động, các ngân hàng cho vay rất thận trọng. Tiêu chuẩn hàng đầu trong vấn đề cho vay là an toàn. Điều này đã giúp cho các ngân hàng tiết kiệm đứng vững trong các cuộc khủng hoảng tài chính 1857, 1866, 1873 ở Anh và 1873, 1929, 1933 ở Hoa kỳ. Cho đến nay các nguồn cho vay chính của ngân hàng tiết kiệm cũng vẫn giống như thập niên trước, chủ yếu bằng việc cầm cố nhà cửa, tài sản hoặc chứng khoán.

Tiếp đó là đầu tư vào chứng khoán hoặc cho các ngân hàng thương mại vay. Nhìn chung những người được vay tiền tại các ngân hàng cũng chính là những người đã gửi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Do vạy, lãi suất cho vay là rất thấp vì nó mang tính chất tương trợ nhiều hơn là kinh doanh.

Ngoài tổ chức với tên gọi chính thức là ngân hàng tiết kiệm, còn có một số tổ chức có hoạt động gần tương tự như ngân hàng tiết kiệm với những tên gọi khác nhau, ví dụ ở Đức có quỹ tiết kiệm thuộc quyền sở hữu của nhà nước và đặc dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Hoạt động của nó gần giống một ngân hàng có quy mô nhỏ.

Ở Việt nam không có ngân hàng tiết kiệm riêng biệt, hầu như tất cả các ngân hàng thương mại, ngân hàng đặc biệt đều có bộ phận quỹ  tiết kiệm để huy động vốn nhàn rỗi trong dân chúng nhằm hình thành nguồn vốn chung của ngân hàng thương mại để có thể cho vay theo nhu cầu hoạt động của các ngân hàng thương mại.

4/ Các liên hiệp tín dụng

ở Việt nam, theo “Luật các tổ chức tín dụng” được Quốc hội nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt nam khoá 10, kỳ họp thứ hai thông qua ngày 12/12/1997, có hiệu lực thi hành 1/10/1998 xác định tổ chức tín dụng là pháp nhân hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán.

Ngân hàng (ở đây là chúng ta hiểu là các ngân hàng trung gian) là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động ngân hàng có liên quan. Căn cứ vào tính chất mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng trung gian theo luật này gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng đầu tư, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng trung gian khác.

– Ngân hàng thương mại (còn gọi là ngân hàng tiền gửi hay ngân hàng tín dụng) với nghiệp vụ truyền thống là huy động vốn phần lớn dưới hình thức ngắn hạn và cho vay ngắn hạn dưới hình thức chiết khấu thương phiếu là chính. Nhưng do thị trường tiền tệ ngày càng phát triển dần dần các ngân hàng này đi vào kinh doanh tổng hợp, làm các nghiệp vụ huy động vốn là cho vay trung hạn, dài hạn và làm hầu như tất cả các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên nét đặc trưng nổi bật của ngân hàng thương mại là cho vay duy trì quy mô của khách hàng là chính.

– Ngân hàng phát triển

– Ngân hàng đầu tư hoạt động với mục tiêu đầu tư trung hạn, dài hạn cũng có sự phát triển (nhưng thông qua các hình thức đầu tư gián tiếp vào giấy tờ có giá). Hoạt động của loại ngân hàng này gần gũi với nghiệp vụ chứng khoán. Các giấy tờ có giá được mở rộng thì loại ngân hàng này cũng phong phú và phát triển.

– Ngân hàng chính sách

– Ngân hàng hợp tác

Như vậy ranh giới giữa các loại hình ngân hàng trung gian hiện nay chỉ là tương đối. Căn cứ vào nguồn vốn và sử dụng vốn hoặc tính chất sở hữu có các tên gọi ngân hàng khác nhau, ví dụ ngân hàng công thương, ngân hàng đầu tư, ngân hàng cổ phần á châu…

Tính đến cuối năm 1998, hệ thống các ngân hàng thương mại bao gồm:

– 4 ngân hàng thương mại quốc doanh (ngân hàng công thương Việt nam, ngân hàng ngoại thương Việt nam, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn)

– 2 ngân hàng chính sách là ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu long (thành lập năm 1998) và ngân hàng phục vụ người nghèo (thành lập năm 1996)

– 51 ngân hàng thương mại cổ phần (ngân hàng Hàng hải, ngân hàng Đại nam, ngân hàng Sài gòn thương tín…)

– 4 ngân hàng liên doanh (Indovina, Vid Public Bank…)

– 24 chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Indo Suel bank, Bankok Bank, ANZ..)

Hi vọng bài viết “Sơ lược về các loại hình ngân hàng trung gian hiện nay” sẽ giải quyết những vướng mắc của bạn

Xem thêm: cách viết báo cáo thực tậpcác loại ngân hàng,luận văn thạc sĩ kế toán

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.